HỆ THỐNG LÀM ẨM TRONG MÁY IN OFFSET TỜ RỜI

Máy In Offset nếu hoạt động trong thời gian dài sẽ bị nóng và sinh ra nhiệt, điều này nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến tuổi thọ cũng như khả năng hoạt động của máy. Chính vì vậy mà chúng được trang bị hệ thống làm ẩm để làm lạnh và giảm bớt hiện tượng nóng lên vì nhiệt.

Làm lạnh dung dịch làm ẩm có 3 tác dụng chủ yếu: giảm bớt hiện tượng bắt dơ khi thời tiết nóng, ổn định nhiệt độ hoạt động của hệ thống làm ẩm, làm giảm sự bay hơi của cồn.

+ Hiện tượng bắt dơ khi thời tiết nóng. Khi thời tiết nóng, nước trên bề mặt bản in dễ bị bay hơi và nếu không cấp dung dịch làm ẩm kịp thời sẽ làm cho mực bám lên phần tử không in. Ngoài ra, nhiệt độ trong dung dịch làm ẩm tăng thường tạo điều kiện cho do các phản ứng hoá học giữa các tạp chất trong dung dịch làm ẩm xảy ra, đây là nguyên nhân làm cho ta khó kiểm soát được chúng. Việc cải tiến công nghệ chế tạo bản in và mực in đã giúp giảm thiểu các sự cố trong quá trình in trong điều kiện nhà xưởng nóng. Sự cố này có thể được khắc phục bằng việc kiểm soát nhiệt độ của dung dịch làm ẩm.

+ Ổn định nhiệt độ hệ thống làm ẩm. Tuỳ thuộc vào nhiệt độ của các bộ phận khác của máy in hay không khí xung quanh mà tiến hành điều chỉnh nhiệt độ của dung dịch làm ẩm. Việc làm lạnh này giúp duy trì tỉ lệ cấp nước không đổi lên bản in. Tỉ lệ cấp nước ổn định giúp ổn định chất lượng in và làm giảm các sản phẩm in hư.

Để giữ cho nhiệt độ của lô mực được ổn định không tăng lên quá cao vì ma sát khi chạy máy ở tốc độ cao, người thợ in nên duy trì nhiệt độ của dung dịch làm ẩm trong khoảng 10 -13 độ C. Một số  máy in có bộ phận dẫn nước làm mát cho lô mực sẽ giúp ổn định nhiệt độ của các lô.

Nhiệt độ tác động lên độ nhớt của dung dịch làm ẩm. Nhiệt độ càng cao càng làm cho độ nhớt của mực giảm. Ta có thể thấy rõ điều này ở khe định lượng mực. Nhiệt độ thay đổi sẽ làm cho lớp dung dịch làm ẩm có độ dầy khác nhau, điều này ảnh hưởng đến tỷ lệ và chất lượng ổn định của sản phẩm in.

+ Làm giảm sự bay hơi của cồn.  Làm giảm nhiệt độ hoạt động là điều đặc biệt quan trọng với hệ thống làm ẩm sử dụng cồn. Nhiệt độ hoạt động thấp hơn làm giảm lượng cồn bay hơi ra khỏi dung dịch. Kết quả thực nghệm cho thấy khi làm lạnh trong khoảng 10 -13 độ C, lượng cồn bay hơi có thể được làm giảm hơn 50% so với khi để ở nhiệt độ 20 độ C. Dung dịch làm ẩm có chứa cồn là một tác nhân bay hơi có hại cho môi trường và sức khoẻ. Do vậy, giảm thiểu sự bay hơi của cồn ngoài yếu tố tiết kiệm chi phí còn có nhiều ý nghĩa về môi trường.

Mặc dù việc làm lạnh dung dịch làm ẩm giúp ổn định chất lượng sản phẩm in nhưng nó có thể tạo ra một số vấn đề sau:

Dung dịch làm ẩm lạnh làm cho nước ngưng tụ trong và ngoài máng nước, làm cho nó chảy nhỏ giọt trên giấy in gây ra sự biến dạng của giấy. Hiện nay máng nước ở các máy in đời mới được cách ly ra ở phía ngoài hoặc được dán lớp băng keo chống ngưng tụ nước.

Nhiệt độ dung dịch làm ẩm thấp làm cho nhiệt độ của mực cũng giảm theo, khi đó độ tách dính của mực in tăng lên gây ra hiện tượng lột giấy – tách, lột từng phần hay xé rách bề mặt giấy khi  lớp mực chịu được lực tách giữa ống bản và giấy.

Một số các chất thay thế cho cồn trên thị trường đã được GATF kiểm tra rộng rãi. Yếu tố quyết định để ứng dụng thành công dung dịch các chất thay thế là mối quan hệ giữa độ cứng các lô và khe định lượng của các lô trong hệ thống làm ẩm. Quan trọng nhất là ở lô định lượng, độ cứng của lô phải được điều chỉnh thấp tới một mức nào đó khi chạy với cồn. Thông thường, lô định lượng được chỉnh với độ cứng từ 25-30  (độ So) và có thể cao hơn một chút. Các kết quả thực nghiệm của GAFT cho thấy khi chạy với các chất thay thế cho cồn, độ cứng của lô định lượng nên nằm trong khoảng từ 18-22 độ So. Các lô mềm hơn có khuynh hướng nhận nước nhiều hơn.

Khi sử dụng lô định lượng có độ cứng bình thường, người ta thống kê được một số sự cố sau: các lô nhạy bắt mực và nhạy bắt nước hơn; bề mặt các lô mạ crôm và lô định lượng không phẳng nên dễ tạo ra các sọc trên tờ in. Lô định lượng mềm sẽ làm tăng khe định lượng và có khuynh hướng làm lớp nước truyền đi mịn và dầy trên lô mạ crôm.

Khi sử dụng các chất thay thế cho cồn, người thợ in cũng cần chỉnh cho khe hở giữa lô mạ crôm và lô chà ẩm bản hẹp hơn bình thường. Thông thường, khi chạy với cồn, khe hở này nằm trong khoảng 8-10 mm, tuỳ thuộc vào đường kính của các lô, khi sử dụng các chất thay thế cho cồn, khe hở này có thể được giảm đi tới mức thấp khoảng 3-5 mm để lấy lại độ mỏng của lớp nước. Trong điều kiện in thông thường, lô chà được truyền động bởi lô chấm, nếu lực cấp không đủ truyền, lô chà có khuynh hướng truyền chuyển động cho lô mạ crôm.

Trên hệ thống làm ẩm tiêu biểu, các lô định lượng và lô mạ crôm được truyền chuyển động từ motor của bộ phận làm ẩm và lô chà được truyền động bởi motor máy in. Nếu lô chà bắt đầu truyền động cho lô mạ crôm, tốc độ của lô tăng theo. Khi các lô trong hệ thống làm ẩm quay nhanh vượt quá điều kiện cho phép, nước có khuynh hướng tụ lại ở hai đầu lô, làm cho nước bị văng hay bắn tung toé. Tốc độ quay dư ra của các lô cũng tạo ra ứng suất không thích hợp trên motor của bộ phận làm ẩm, nó thường làm phá vỡ quá trình chuyển động và làm motor hư. Khi sử dụng các chất thay thế cho cồn, hệ thống làm ẩm nên chạy với cùng tốc độ (hay nhanh hơn một chút) so với khi sử dụng cồn.

Một số chất thay thế cho cồn hoạt động tốt nhất với các lô định lượng được kéo xiên, trong khi các chất khác đòi hỏi lô định lượng và lô mạ crôm phải ở vị trí song song. Điều này làm giảm lực ép ở trọng tâm của lô. Lô định lượng thường phải được kéo xiên khi nước ở giữa lô dư và khô ở hai đầu. Nếu phần giữa của lô không nhận đủ nước, lô phải được đặt song song với lô mạ crôm. Góc tốt nhất khi kéo xiên được xác định theo kinh nghiệm, đặc biệt là khi chạy với các chất thay thế cho cồn.

Sự cân bằng mực nước tốt thể hiện bằng lằn bóng của nước ở chỗ uốn cong đầu bản in. Khi máy in chạy ổn định, thỉnh thoảng người thợ in nên dừng máy để kiểm tra độ dày và độ bóng của lằn bóng nước đó. Tốt nhất là nên kiểm tra khi đổi xe ra giấy. Nếu sự cân bằng mực nước tốt ta thấy một lằn bóng nước mỏng và đều chạy ngang qua bề rộng của bản in. Nếu bản quá khô ở một khu vực nào đó, đường bóng nước sẽ rộng ra và nếu bản quá ướt ở một nơi nào đó, thì đường bóng nước sẽ biến mất.

Điều chỉnh tốc độ của lô định lượng là một việc hết sức quan trọng. Khi sử dụng các dung dịch làm ẩm là chất thay thế, cần phải điều chỉnh cho các lô làm ẩm chạy với tốc độ cao hơn. Tuy nhiên, điều này có thể dẫn tới hiện tượng nước văng lên và không thể kiểm soát nước ở hai đầu lô.

Khi sử dụng các chất thay thế cho cồn trong hệ thống làm ẩm cho May In Offset có thể xảy ra một số sự cố, tuy nhiên vẫn có thể khắc phục được chúng nếu áp dụng những điều sau đây:

Các sự cố về việc sử dụng các chất thay thế cho cồn

Khi sử dụng chất thay thế cho cồn trong dung dịch làm ẩm có thể xảy ra một số sự cố sau:

• Lô định lượng dễ bắt mực. Các chất thay thế cho cồn thỉnh thoảng làm cho lô định lượng trở nên nhạy với mực. Trước tiên, mực sẽ bám vào lô mạ crôm và sau đó được truyền qua lô định lượng. Giải pháp khắc phục hiện tượng này là dùng axít lau qua lô mạ crôm. Sử dụng khoảng 30 ml axít photphoric pha vào 1 lit gôm để duy trì khả năng bắt nước của lô mạ crôm. Duy trì khả năng nhận nước của lô định lượng bằng cách lau lớp gôm hay lớp phủ lên bề mặt của nó.

• Nước đóng thành từng vệt ở lô định lượng. Hiện tượng nước bắt thành từng vệt có thể xảy ra khi sử dụng các chất thay thế cho cồn với độ cứng của lô định lượng thông thường (25-30). Các vệt nước trên lô gây ra các sọc rất nhạt hay đậm quanh các ống hay trên tờ in. Cách khắc phục là sử dụng lô định lượng mềm hơn.

• Một số nhà sản xuất đưa ra các lô định lượng với bề mặt có các hạt nhỏ. Bề mặt gồ ghề cho phép nước được truyền đi qua khe, và vật liệu phủ mềm hơn giúp cho người thợ in có nhiều khả năng kiểm soát việc làm ẩm bản ở phạm vi rộng hơn.

• Nồng độ của dung dịch làm ẩm tăng lên. Theo thời gian sử dụng, nồng độ của đung dịch làm ẩm tăng dần lên vì nước trong dung dịch làm ẩm bay hơi nhưng hầu hết các chất thay thế cho cồn thì không đổi. Đối với một số chất thay thế, điều này có thể gây ra một số vấn đề nghiêm trọng về sự cân bằng mực nước, độ dày lớp mực, và thậm chí ảnh hưởng đến việc bám dính lên bề mặt giấy có tráng phủ. Khi không xác định được độ đậm đặc của chất thay thế, ta phải thay dung dịch ít nhất một lần mỗi tuần.

• Dung dịch làm ẩm quá lạnh. Dung dịch làm ẩm quá lạnh làm cho mực có độ tách dính cao và có thể dẫn tới các sự cố lột tách giấy hay mực không truyền đủ. Nhiệt độ tốt nhất điều chỉnh cho đơn vị làm lạnh dung dịch làm ẩm là 10-130C, tuỳ theo nhiệt độ môi trường xung quanh mà người thợ in nên để nhiệt độ trong máng nước tăng giảm thêm đôi chút.

• Sọc lô. Khi sử dụng các chất thay thế cho cồn, nếu hệ thống mực không sạch sẽ gây ra hiện tượng sọc lô. Khi hiện tượng này xảy ra, cách xử lý thông thường là đem các lô mực mạ đồng thay thế vào các máy in cũ hơn. Nếu sự cố xảy ra trên máy in được trang bị các lô sàng bọc nylon hay Teflon, ta có thể khắc phục được sự cố này bằng cách lau các lô với nước ấm (sau khi đã rửa mực bằng dung môi).

• Hiện tượng nước bị tràn khi máy in nhả hệ thống làm ẩm. Nếu nhả bộ phận cấp nước khi sử dụng các chất thay thế cho cồn, ta nên tắt hệ thống làm ẩm không cho lấy nước để tránh nước bị trào ra khi chà lên bản in. Khi sử dụng một số chất thay thế cho cồn, hiện tượng trào nước dư có thể được khắc phục bằng cách giảm khe hở giữa lô mạ crôm và lô chà. Nếu máy in không có hệ thống tự động cân bằng nước và khi máy in ngừng hơn 1 phút, các nhà in cần phải tập cho người thợ in có thói quen tắt hệ thống làm ẩm trong thời gian khoảng 30 giây đến 2 phút, để giữ cho hệ thống mực không bắt vào dung dịch làm ẩm.

• Hiện tượng nổi bọt. Hiện tượng nổi bọt xuất hiện trong nước máng khi bọt nước hình thành trong quá trình chuyển động của dòng nước va vào cạnh của lô định lượng làm cho nước bị văng toé lên tờ in. Các chất chống tạo bọt có thể được sử dụng với chất thay thế cho cồn để hạn chế việc hình thành bọt nước. Hiện nay, một số hãng sản xuất máy in đưa ra hệ thống chống nổi bọt bằng các thiết bị cơ khí.

• Hiện tượng bít tram. Hiện tượng các tram vùng tối hay các chữ màu trắng nhỏ bị bít thỉnh thoảng xảy ra khi sử dụng quá ít các chất thay thế cho cồn. Nói cách khác là khi nước không đủ làm ẩm bản.

• Hiện tượng các chất bám dính lên lô định lượng. Một số dung dịch làm ẩm có khuynh hướng tạo  ra sự bám dính của một số chất màu trắng (như muối) lên trên bề mặt lô định lượng. Các vật bám màu trắng này có thể trở nên nhạy với mực và bắt mực. Hiện tượng bám dính thường xảy ra  khi máy in không hoạt động qua một đêm. Để khắc phục điều này người thợ in nên điều chỉnh lô định lượng tách ra khỏi lô mạ crôm và lau sạch bằng dung dịch tẩy rửa thích hợp và làm bóng bề mặt lô.

• Hiện tượng giấy bị lột do độ dầy lớp mực không đủ. Một số chất thay thế cho cồn đòi hỏi sự cân bằng mực nước ở mức thấp hơn mức bình thường để giữ cho vùng tối của hình ảnh đủ tương phản và các tông tram mịn màng. Cần phải giảm độ dầy lớp mực xuống còn 0.15 mm (thông thường từ 0.2-0.4 mm trên tờ in). Trên lý thuyết, lớp mực mỏng hơn tạo ra ứng suất nhiều hơn lên tờ in và có khuynh hướng làm cho mực bị lột nhiều hơn. Tuy nhiên, các chất thay thế cho cồn có khuynh hướng làm tăng sự bôi trơn tấm cao su, làm cho giấy tách ra khỏi tấm cao su tốt hơn.

Sưu tầm bởi Tienlx / www.sicprimex.vn

Được đăng vào

Viết bình luận